SỰ TÒ MÒ TRONG TÔI LẠI TRỖI DẬY. Tôi đã luôn ao ước có một ca thôi miên mà khách hàng hồi quy về một kiếp sống trên hành tinh khác và chắc chắn tôi sẽ không thể nào bỏ lỡ cơ hội ngàn năm có một này để tìm hiểu về những sinh mệnh ngoài không gian. Vì vậy, để kéo sự chú ý của anh ấy ra khỏi những ký ức đau buồn, tôi bắt đầu hỏi về chiếc phi thuyền.

P: Nó có hình tròn và mang sắc bạc. Có một mái vòm nằm tít trên cùng, ngay chính giữa. Nó không dùng để điều hướng; mái vòm đó chỉ dùng để quan sát và nhìn ngắm xung quanh. Phía bên trái là một ô cửa sổ và một bảng điều khiển. Ngay phía trước cửa sập có vài đường ống. Con tàu được chia làm hai tầng. Khu vực tầng trên chỉ là một căn phòng duy nhất dùng làm nơi đặt các thiết bị dẫn đường. Ở tầng dưới có bốn phòng ngủ và một phòng thí nghiệm khoa học.

Không gian chính là một căn phòng hình tròn có đường kính chừng 30 feet (khoảng hơn 9 mét). Người ta dùng một chiếc thang leo hoặc một đường ống hẹp để di chuyển giữa hai tầng.

D: Con tàu được chế tạo từ loại vật liệu gì vậy?

P: Loại vật liệu này có màu xám xịt, xỉn màu và hoàn toàn không hắt sáng. Bản chất của nó cứng cáp và có độ đàn hồi cao hơn rất nhiều so với những vật liệu được dùng để xây dựng trên hành tinh của chúng tôi. Loại kim loại này được nhập khẩu từ hành tinh khác. Những tuyến giao thương liên hành tinh đã được thiết lập sẵn sẽ vận chuyển loại kim loại này từ nơi chúng được khai thác và luyện kim.

P: (Dường như đang trả lời một câu hỏi vô hình về việc liệu Trái Đất có vật liệu này không) Ở thời điểm hiện tại thì không có đâu. Có lẽ trong tương lai sẽ có, nhưng lúc này thì [trên Trái Đất] không có bất kỳ thứ gì tương đương cả. Về kết cấu, nó có thể sánh ngang với loại kim loại cứng nhất có thể được tạo ra trên Trái Đất. Tôi có thể ví độ cứng của nó với kim cương nhưng sự so sánh đó cũng không hoàn toàn chính xác. Kim cương sở hữu những đặc tính cấu trúc quang học khác biệt tạo nên độ cứng của nó. Ngay cả khi có thể làm được, kim cương cũng sẽ chẳng giữ nổi độ cứng của mình nếu bị dát mỏng thành một tấm phẳng.

D: Những phi thuyền này có được lắp ráp trên hành tinh mẹ của anh không?

P: (Ngập ngừng) Thật khó nói. Tôi không nghĩ mình có thể trả lời câu hỏi này ngay lúc này. Đây không phải là chuyện được phép tiết lộ… vì một lý do nào đó. Thực ra, không hẳn là do lệnh cấm, mà đơn thuần là vì tôi thiếu thông tin, tôi không đủ am hiểu về quy trình sản xuất của chúng.

D: Anh có nhìn thấy con tàu được vận hành như thế nào không?

P: Các bảng điều khiển được vận hành bằng thao tác chạm.

D: Đó có phải là cách con tàu được bẻ lái hay điều hướng không?

P: Đó chỉ là cách các mệnh lệnh được truyền đi, chứ không phải là cơ chế thực thi của con tàu. Cần phải có một giao diện tương tác (interface) giữa những người điều hướng và cỗ máy dẫn đường và phương thức giao diện đó chính là những cú chạm. Điều này cho phép người vận hành ra lệnh cho máy móc biết nó cần phải làm gì. Có những khu vực cụ thể trên bảng điều khiển tương ứng với từng lệnh nhất định khi ta chạm vào.

Có lẽ sẽ dễ hiểu hơn về ý tưởng “điều khiển bằng cảm ứng” này nếu tôi lấy ví dụ về cách một số thiết bị điện gia dụng trên Trái Đất ngày nay phản hồi với thao tác chạm. Trong giới kỹ thuật, người ta gọi đó là những “thiết bị cảm ứng” (touch-sensitive devices), chúng hoàn toàn không có các linh kiện cơ học chuyển động. Chúng rất nhạy cảm hoặc sẽ thay đổi trạng thái khi có sự tiếp xúc. Bà có rành về mấy thứ này không? Bà đã bao giờ thấy những chiếc TV có thể chuyển kênh chỉ bằng một cái chạm nhẹ chưa?

D: Tôi nghĩ là có. Đó là mấy dòng TV đời mới.

Rõ ràng là Phil đang viện đến những kiến thức về sửa chữa TV của mình trong hiện tại để làm hệ quy chiếu cho những thiết bị ngoài hành tinh mà anh đang nhìn thấy.

P: Nhiên liệu của con tàu là… Nó sử dụng năng lượng tinh thể. Khối tinh thể ấy đóng vai trò như một kênh dẫn hoặc một màng lọc, giúp hội tụ các nguồn năng lượng vũ trụ và chuyển hướng chúng để tạo ra lực đẩy. Khối tinh thể này cao chừng hai feet (khoảng 60cm) và chu vi vòng quanh lớn hơn một chút. Nó có hình dáng của hai khối kim tự tháp úp phần đáy vào nhau với hai đỉnh chĩa ra ngoài—mang cấu trúc hình thang.

D: Những khối kim tự tháp đó có hình tròn với các mặt nhẵn nhụi, hay chúng được vát góc?

P: Các mặt bên đều được vát đa giác. Và ở ngay phần chóp tận cùng của phễu thì được làm phẳng.

Khi Phil bừng tỉnh sau đó, tôi đã nhờ anh vẽ lại hình dáng của khối tinh thể để có thể xác định cấu trúc của nó một cách chuẩn xác hơn. Hóa ra các chóp của hai kim tự tháp không hề nhọn hoắt, mà đã được vát phẳng. (Xem hình minh họa.)

P: Đây là những khối tinh thể tự nhiên được đẽo gọt để phục vụ cho từng công năng chuyên biệt. Chúng được tạo hình hoặc cắt vát dành riêng cho mục đích này. Mỗi chức năng khác nhau sẽ đòi hỏi một hình dáng khác nhau. Thực ra, trên chính Trái Đất hiện tại, con người cũng đang bắt đầu thực hiện điều này ở một quy mô nhỏ. Nguồn tri thức này từng bị thất truyền, nhưng giờ đây nó đang quay trở lại.

D: Khối tinh thể đó được đặt ở đâu trên phi thuyền?

P: Nó nằm ở vị trí chính giữa tâm con tàu, ngay ở tầng một.

D: Anh có thể nhìn thấy nó trực tiếp không, hay nó được bọc kín trong một thứ gì đó?

P: Nó được đặt trên một giá đỡ, nhưng ta hoàn toàn có thể nhìn thấy nó.

D: Đứng gần khối tinh thể đó có an toàn không?

Tôi chợt nhớ đến những tư liệu về Chúa Jesus (trong cuốn “esus and the Essenes”), rằng người ta phải tuyệt đối tránh xa và không được phép chạm vào khối tinh thể khổng lồ ở Qumran. Tôi cứ ngỡ khối tinh thể trên phi thuyền này cũng có khả năng thiêu rụi hoặc gây tổn thương cho những ai đến gần.

P: Sẽ rất nguy hiểm nếu chạm vào hoặc tùy tiện táy máy khi nó đang hoạt động, bởi vì điều đó sẽ làm sai lệch các luồng bức xạ năng lượng. Không phải là nó sẽ gây tổn hại về mặt thể chất cho ai đó, mà nó sẽ khiến con tàu đi chệch quỹ đạo. Các luồng năng lượng vốn đã được định hướng vô cùng chuẩn xác và việc xê dịch khối tinh thể sẽ làm thay đổi toàn bộ hệ thống phát xạ đó.

D: Ở hành tinh quê hương anh, người ta có dùng tinh thể cho những việc khác không?

P: Cho đủ mọi việc—từ sưởi ấm, nấu nướng cho đến việc đi lại—ứng dụng của nó nhiều hệt như cách các vị đang sử dụng các nguồn năng lượng hiện tại vậy.

D: Và với mỗi mục đích sử dụng, nó lại được gọt giũa theo một hình dáng khác nhau sao?

P: Có thể ví von đại khái là như vậy. Một khi tinh thể đã được định hình, cấu trúc của nó sẽ cố định. Ngoại trừ một vài trường hợp hay sự cố vô cùng đặc biệt, việc cố gắng đẽo gọt lại sẽ chỉ phá hỏng nó mà thôi. Dù cùng chung một chủng loại tinh thể, nhưng chúng có thể được dùng để khai thác những dải năng lượng khác nhau. Năng lượng tạo lực đẩy rất khác biệt, nó không giống với loại năng lượng dùng để nấu nướng hay sưởi ấm. Sự khác biệt giữa việc sưởi ấm không gian nói chung và việc nấu nướng nằm ở mức độ hội tụ tại tâm điểm. Trong nấu nướng, năng lượng cần được hội tụ một cách sắc nét và tập trung hơn rất nhiều.

D: Nếu một khối tinh thể có thể dùng để đun nấu và sưởi ấm, chẳng phải loại tinh thể đó sẽ rất nguy hiểm đối với cơ thể vật lý của con người sao?

P: Chắc chắn rồi. Lục địa Atlantis trên chính Trái Đất này đã bị diệt vong cũng bởi một khối tinh thể. Chỉ riêng điều đó thôi cũng đủ để bà hình dung ra thứ sức mạnh khủng khiếp đang được nhắc tới. Bất kỳ nguồn năng lượng nào cũng có thể được dùng cho mục đích tốt đẹp hoặc tà ác, tất cả đều phụ thuộc vào người sử dụng. Tất nhiên là con người hoàn toàn có thể bị tổn thương bởi những nguồn năng lượng này nhưng nếu nhìn nhận ở một góc độ tích cực hơn, chúng cũng mang lại những lợi ích tiến hóa vô cùng to lớn.

D: Khối tinh thể trên tàu tự tạo ra năng lượng hay nó hút năng lượng từ một nơi nào khác?

P: Nó chỉ đơn thuần là hội tụ năng lượng vốn có sẵn trong vũ trụ. Năng lượng đó đang hiện diện ở khắp mọi nơi quanh ta ngay lúc này, ngay khi chúng ta đang nói chuyện, vậy nên bà có thể thấy rằng việc đắm mình trong trường năng lượng này chẳng gây hại cho ai cả, vì rõ ràng hiện tại nó đâu có làm hại chúng ta. Đó không phải là một nguồn năng lượng mà bất kỳ ai trong chúng ta trên Trái Đất hiện nay từng có kinh nghiệm tiếp xúc. Nó đến từ rất nhiều nguồn. Từ các mặt trời, từ nguồn năng lượng của vũ trụ—thứ đang và có thể được gọi là Thượng Đế. Năng lượng Thượng Đế (nói theo cách hiểu của loài người) thẩm thấu qua mọi chiều không gian và vạn vật. Có những nguồn năng lượng vũ trụ (cosmic), năng lượng tinh tú (astral), năng lượng hội tụ (focal); có vô vàn những loại năng lượng khác nhau có thể được sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau.

Điều này bắt đầu làm tôi rối trí, nên tôi quyết định chuyển chủ đề.

D: Anh giữ chức vụ gì trên chiếc phi thuyền đó?

P: Tôi là một thành viên phi hành đoàn. Không phải thuyền trưởng, mà là người hỗ trợ các công việc vận hành thường nhật của con tàu. Công việc của tôi là đảm bảo các hệ thống khác nhau hoạt động trơn tru. Nói cách khác là theo dõi hệ thống máy móc chứ không phải coi bản đồ hay biểu đồ, vì đó là việc của hoa tiêu.

D: Trên tàu có nhiều máy móc không?

P: Có đủ thiết bị để hoàn thành công việc và chỉ cần có thế thôi. Nó không hề chật chội. Ở trên tàu không có cảm giác gò bó hay khó chịu nào cả.

D: Các thiết bị đó hoạt động theo nguyên lý cơ học hay điện học?

P: Nó mang tính vật lý, đúng vậy. Nó vận hành dựa trên các dạng năng lượng: điện, thủy lực, khí nén, tĩnh điện, động lực học. Đa dạng y hệt như những hệ thống máy móc thời hiện đại trên Trái Đất ngày nay vậy. Chúng cùng chung những nguyên lý vật lý.

D: Nhưng nếu một thứ gì đó có các bộ phận cơ học chuyển động, nó hoàn toàn có khả năng bị hỏng hóc.

P: Chắc chắn rồi. Thỉnh thoảng chúng cũng gặp trục trặc và nhiệm vụ của tôi là sửa chữa những bộ phận hư hỏng đó hoặc thay mới nếu không thể cứu vãn. Chúng tôi luôn mang theo những linh kiện cần thiết để sửa chữa. Phụ tùng của chúng tôi không mấy khi hỏng đâu. Quy trình sản xuất đã được chuẩn hóa và tinh chỉnh đến một trình độ cao đến mức hiếm khi xảy ra lỗi. Tuy nhiên, sự cố vẫn thỉnh thoảng xảy ra và đó là một điều đáng tiếc, bởi đó chính xác là những gì đã giáng xuống đầu các nhà khoa học trên hành tinh khai khoáng kia. Sự việc lần đó chính là một tai nạn như vậy.

D: Có hệ thống nào trên tàu mà anh đặc biệt phụ trách chăm sóc không?

P: Phần lớn công việc của tôi là lo liệu hệ thống điều hướng và lực đẩy, tức là khối tinh thể cùng các hệ thống hỗ trợ của nó.

D: Đó hầu như chỉ là một hệ thống thôi sao? Nó không chạy xuyên suốt toàn bộ con tàu à?

P: Có vài hệ thống. Vài hệ thống khác nhau cùng thực hiện những nhiệm vụ đa dạng này. Nhưng chúng gần như được đặt tập trung tại một khu vực trên tàu.

D: Anh có thể quan sát vài hệ thống trong số đó và miêu tả chức năng của chúng được không?

P: Hệ thống ở vị trí trung tâm, chính là khối tinh thể, nó mang một mục đích kép—dẫn đường và tạo lực đẩy. Nói cách khác, khối tinh thể này có thể cảm nhận được phương hướng, vị trí, đồng thời cũng sản sinh ra lực đẩy. Có những hệ thống hỗ trợ để quá trình này diễn ra. Nhưng bản thân khối tinh thể mới là thứ thực thi chức năng chính.

D: Tôi đang cố gắng hình dung cách thức vận hành của những thứ này và cố hiểu chúng rõ nhất có thể. Có dây dẫn nào cắm vào khối tinh thể không?

P: Không, không có sự kết nối trực tiếp nào cả. Có những trường năng lượng đóng vai trò truyền tải sức mạnh và thông tin, có thể nói là như vậy.

D: Các anh có sử dụng nguyên lý điện năng trên con tàu không?

P: Không giống như cách mọi người biết trên Trái Đất. Chúng tôi có sử dụng năng lượng, nhưng nó không hoàn toàn tương đương với dòng điện.

D: Thế còn hệ thống chiếu sáng trên tàu thì sao?

P: Cũng được thực hiện thông qua các tinh thể, hoặc các loại tinh thể đặc thù có khả năng phát sáng khi bị kích thích bởi những nguồn năng lượng nhất định. Đây không phải là những khối tinh thể đơn lẻ, tách rời. Có rất nhiều mảnh nhỏ của… (anh ấy có vẻ chật vật khi giải thích). Thứ gần giống nhất có thể so sánh chính là lớp photpho bên trong một bóng đèn huỳnh quang. Nhưng loại “photpho” này không nằm trong môi trường chân không. Nó nằm trên trần nhà và tích hợp ngay bên trong chính trần nhà. Năng lượng được truyền thẳng qua trần nhà, kích thích những tinh thể này phát sáng. Vì thế, về cơ bản, toàn bộ trần nhà biến thành một nguồn sáng.

Khi tỉnh dậy, anh giải thích thêm rằng ánh sáng trên con tàu có thể được hình dung giống như bột thủy tinh được phun lên các bức tường hoặc trần nhà. Những tinh thể đó vô cùng nhỏ—rất nhiều những mảnh li ti—và khi dòng năng lượng chạy qua, nó khiến chúng rực sáng.

D: Có thứ gì trên tàu tương đương với “máy tính” như chúng ta biết không?

P: Không có tính năng xử lý dữ liệu. Máy tính trên Trái Đất tiếp nhận thông tin rồi xử lý chúng. Còn các hệ thống trên con tàu thì tiếp nhận năng lượng và điều hướng chúng. Không có sự xử lý hay biến đổi nào cả, chỉ đơn thuần là sự phân luồng điều hướng.

D: Loại phi thuyền này có phải là một phương tiện sử dụng tính năng phản trọng lực (anti-gravity) không?

P: Thuật ngữ “phản trọng lực”, về cơ bản, là chính xác. Tuy nhiên, bản chất của nó không phải là một dạng vật chất phản trọng lực. Ý tôi là, kết quả “phản trọng lực” đã đạt được. Những nguồn năng lượng được sử dụng là năng lượng vũ trụ. Không hề tồn tại một lực lượng nào hoạt động theo chiều ngược lại của trọng lực cả. Chỉ là có một, hoặc nhiều lực, có thể được dùng để triệt tiêu lực kéo của trọng lực. Tuy nhiên, chúng không phải là mặt tối hay là “hình ảnh phản chiếu” của trọng lực.

D: Đó là những gì tôi từng nghe; rằng những phi thuyền này bằng cách nào đó phải đẩy lùi (repel) trọng lực mới có thể bay được.

P: Không hẳn là “đẩy lùi” mà là “vượt qua” (overcome) nó. Nó hoạt động thiên về các nguyên lý của từ trường hơn, nơi mà lực kéo hay lực đẩy có thể bị tác động. Bà hiểu ý tôi chứ?

Thực sự là tôi chẳng hiểu gì. Tôi chỉ đang cố gắng thu thập thông tin để một ai đó am hiểu hơn về những vấn đề này có thể đọc và hiểu được chúng. (Người dịch: Tôi cũng không hiểu kkk) 

D: Tôi đoán những phương tiện này cũng cùng loại với những phi thuyền (UFO) mà người ta từng nhìn thấy trong bầu khí quyển Trái Đất của chúng ta.

P: Có rất nhiều loại phi thuyền khác nhau được nhìn thấy quanh hành tinh này. Vài chiếc thuộc không gian ba chiều, vài chiếc lại đến từ chiều không gian thứ tư. Những gì người ta nhìn thấy chưa chắc lần nào cũng giống nhau.

D: Mọi người không thể hiểu nổi những tốc độ kinh hồn mà các phương tiện này từng được quan sát thấy.

P: Điều đó đạt được là nhờ việc nương theo các mạch năng lượng (circuits of energy). Có những mạch năng lượng kết nối các khu vực khác nhau của các dải ngân hà lại với nhau, và chỉ cần đặt mình vào đúng những mạch đó, kết hợp với việc điều hướng năng lượng một cách chuẩn xác, con tàu có thể được phóng đi với tốc độ cực kỳ khủng khiếp. Những phi thuyền này sử dụng các nguyên lý của sự bay bổng (levitation) và cách di chuyển phổ thông trong không gian nhờ vào những luồng gió mặt trời hay các “dòng sông ngân hà”. Giữa các hệ sao và các hành tinh tồn tại những dòng sông năng lượng khổng lồ chảy xuyên suốt vũ trụ, thế nên mọi chuyện chỉ đơn giản là căn chỉnh phi thuyền của mình cho khớp với những dòng sông khổng lồ ấy và cứ thế “nương theo dòng chảy”, có thể nói là như vậy. Khái niệm này cũng chẳng khác mấy so với nguyên lý điều hướng tàu thuyền trên các con sông ở Trái Đất.

D: Sự linh hoạt cơ động đến khó tin của chúng có phải cũng nhờ vào những dòng chảy khác nhau này không?

P: Đúng vậy. Thứ tương đương có thể ví như một thỏi nam châm. Cưỡi trên một từ trường.

D: Tôi hình dung sẽ còn rất lâu nữa con người trên Trái Đất mới có thể tái tạo lại được những kỳ tích này.

P: Không lâu đâu. Không lâu như người ta tưởng đâu. Hiện tại đang có những người làm việc với loại năng lượng này rồi. Nó không còn quá xa vời trong tiến trình tiến hóa của Trái Đất nữa. Ở Nhật Bản có một đoàn tàu sử dụng một nguyên lý gần giống với hiện tượng này. Nó được treo lơ lửng nhờ từ tính. Nó được đẩy đi dọc theo một từ trường. Tại những nơi vốn là đường ray thông thường, người ta đặt các nam châm điện. Và các nam châm này liên tục được bật và tắt luân phiên, với chiều hướng luôn tiến về phía đích đến, từ đó kéo đoàn tàu lao đi. Các nam châm trên tàu bị đẩy lùi bởi các nam châm dưới đường ray, và chính bằng cách đó, nó đẩy đoàn tàu hay đúng hơn là đẩy từ trường của nó về phía trước. 

*Theo tìm hiểu của mình thì đoạn này có khả năng nói đến tàu Maglev. Tàu Maglev (Magnetic Levitation) của Nhật Bản là công nghệ vận tải đường sắt tiên tiến, sử dụng nam châm điện siêu dẫn để nâng tàu lơ lửng, loại bỏ ma sát, đạt tốc độ kỷ lục thế giới hơn 600 km/h (kỷ lục 603 km/h năm 2015)

D: Vậy phi thuyền của các anh cũng vận hành theo một nguyên lý tương tự sao?

P: Khá là giống. Sẽ có một lực kéo ở mũi tàu hướng về phía đích đến và một lực đẩy ở đuôi tàu dội lại từ điểm xuất phát mà nó vừa rời đi. Nhờ vậy, những luồng năng lượng này sẽ tự nhiên kéo con tàu theo đúng hướng mà nó được phân cực.

D: Vậy nó không hẳn là nam châm nhưng nguyên lý thì tương tự.

P: Chính xác là như vậy.

D: Các anh làm gì trong những chuyến bay cùng chiếc phi thuyền này?

P: Chúng tôi thực hiện các chuyến thám hiểm, lập khu định cư, vận chuyển hàng tiếp tế, hỗ trợ và truyền đạt kiến thức. Có những tuyến đường cố định. Có tuyến đường dành riêng cho thám hiểm, tuyến đường dành cho việc giảng dạy. Có cả những tuyến đường sản xuất nơi có các—dùng từ “công ty” thì không đúng lắm—nơi có các cơ sở chế tạo nằm trên những hành tinh khác.

D: Ý anh là các anh vận chuyển những thành phẩm này qua lại sao?

P: Vâng, là những thành phẩm. Có những tuyến đường giao thương, điều này cũng chẳng có gì đáng ngạc nhiên. Vũ trụ này đông đúc hơn rất nhiều so với những gì mà một người bình thường có thể lờ mờ đoán được hay mường tượng ra. Vũ trụ vô cùng nhộn nhịp, chằng chịt những tuyến đường và được khai thác triệt để. Khu vực quanh hành tinh mẹ của chúng tôi lại càng dày đặc những hành tinh được gọi là “có thể sinh sống được”. Có rất nhiều hành tinh có cư dân sinh sống trong mỗi phân khu không gian. Nói cách khác, đó thực sự là một nơi chật chội. Rất chật chội.

D: Tôi tự hỏi liệu Trái Đất có nằm trên một trong những tuyến đường đó không.

P: Không hề. Vào thời điểm đó, họ thậm chí còn chẳng biết đến sự tồn tại của hành tinh này.

D: Do nó nằm ở quá xa sao?

P: Đơn giản là nó không nằm trong phạm vi thám hiểm hay vùng vận chuyển trực tiếp của chúng tôi.

D: Tôi đoán điều đó cũng giống hệt như việc chúng tôi chẳng hề hay biết về các hành tinh khác. Có lẽ chúng tôi cũng hoàn toàn mù tịt về hành tinh quê hương của anh.

P: Rất đúng. Trái Đất nằm ở một nơi quá đỗi hẻo lánh, nằm ngoài mọi bản đồ, và thêm vào đó là công nghệ của loài người vẫn chưa đủ tiến bộ để có thể nhìn thấy hay dò tìm ra những hoạt động đó.

Chúng tôi đã mở ra một cánh cửa, hay có lẽ gọi là “mở bung một cửa xả lũ” thì đúng hơn, để cho những ký ức từ không gian vũ trụ ùa về. Trải nghiệm ban đầu này không hoàn toàn giống như những gì tôi từng kỳ vọng. Phần miêu tả về cách thức vận hành của chiếc phi thuyền mang quá nhiều yếu tố kỹ thuật vượt quá khả năng thấu hiểu của tôi. Tôi chỉ hy vọng rằng, qua những câu hỏi dò dẫm vụng về của mình, tôi có thể hé lộ được đôi điều thú vị cho một ai đó có khả năng am hiểu về những lĩnh vực này. Lượng thông tin phong phú mà tôi từng thu thập được trong các ca hồi quy với những khách hàng khác luôn phụ thuộc vào khả năng đào sâu đặt câu hỏi đến tận cùng về những thời kỳ, những quốc gia hay các sự kiện mà chúng tôi chạm trán. Tôi bắt đầu trăn trở không biết liệu mình có đủ nhạy bén để nghĩ ra những câu hỏi xác đáng cho những chủ đề quá đỗi lạ lẫm này hay không. Bởi lẽ, nếu không có những câu hỏi được diễn đạt chuẩn xác, câu trả lời sẽ vĩnh viễn không chịu hiện hình, hoặc sẽ chỉ bật ra thành từng mảnh ghép vụn vặt.